Đọc hiểu truyện: Mây trắng còn bay

Đọc văn bản sau:

Máy bay cất cánh trong mưa. Tiếng càng bánh xe gấp lại có vẻ mạnh hơn bình thường dội độ rung vào thân máy bay. Tôi tiếc là đã không nghe lời vợ. Đáng lý nên trả vé, đừng theo chuyến này. Ngày xấu, giờ xấu, thời tiết xấu.

Máy bay hẫng một cái như hụt bước. Tay vận complet ngồi bên cạnh tôi mặt nhợt đi, mắt nhắm nghiền, cặp môi run run. Tôi bấu chặt các ngón tay vào thành ghế. Con người tôi bé tí hin treo trên vực sâu đang càng lúc càng sâu thẳm.

– Mây ngay ngoài, các bác kìa! – bà cụ ngồi ở ghế trong cùng, kề cửa sổ, thốt kêu lên.

Chiếc TU đã lấy được độ cao cần thiết, bắt đầu bay bằng. Hàng chữ điện “Cài thắt lưng an toàn” đã được tắt đi. Nhưng ngoài cửa sổ vẫn cuồn cuộn mây.

– Mây cận quá, bác nhỉ, với tay ra là với được – Bà cụ nói – Y thể cây lá ngoài vườn.

Tay vận complet nhấc mi mắt lên. Môi y mím chặt, vẻ căng thẳng đổi thành quàu quạu.

– Vậy mà sao nhiều người họ kháo là tàu bay trỗi cao được hơn mây bác nhỉ?

Tay nọ làm thinh.

– Chả biết đâu trời đâu đất thế này biết lối nào mà về bến, thưa các bác?

Không được trả lời, bà cụ chẳng dám hỏi han gì thêm. Bà ngồi im, ôm chặt trong lòng một chiếc làn mây. Hình vóc bé nhỏ, teo tóp của bà như chìm lấp vào thân ghế. Khi cô tiếp viên đẩy xe đưa bữa điểm tâm đến, bà không muốn nhận khay đồ ăn. Bà bảo cơm nước lạ kiểu chẳng đũa bát gì chẳng quen, mấy lại đã ăn no bụng hồi sớm, mấy lại cũng thực tình là già chẳng có lắm tiền. Cô gái ân cần giải thích để bà cụ yên tâm rằng giá của suất ăn này đã được tính gộp trong tiền vé.

– Thảo nào hai lượt tàu bay những triệu bạc – bà cụ nói – Vậy mà lúc biếu già tấm vé các chú không quân cùng đơn vị với con trai già ngày nọ bảo là tốn có trăm ngàn. Các chú ấy cho già thì có, chứ còn tính ở quê đừng nói triệu với trăm ngàn, ngàn với trăm cũng khó.

Bà cụ hạ chiếc bàn gấp xuống song không bày bữa ăn lên đấy. Tất cả các thứ hộp thứ gói trên khay bà dồn hết vào chiếc làn mây. Bà chẳng ăn chút gì. Lúc người ta mang đồ uống đến, bà cũng chỉ xin một cốc nước lọc. Bà hỏi cô tiếp viên:

– Đã sắp đến sông Bến Hải chưa con?

– Dạ thưa – Cô gái nhìn đồng hồ đeo tay – Còn chừng dăm phút nữa ạ. Nhưng thưa cụ vì chúng ta bay trên biển nên không ngang qua sông mà sẽ chỉ ngang qua vùng trời vĩ tuyến 17.

– Lát qua đấy con bật dùm già cái cửa tròn này con nhé, cho thoáng.

– Ấy chết, mở thế nào được ạ. Cô gái bật cười.

Ngoài cửa sổ nắng loé lên, cánh máy bay lấp lánh, nhưng chỉ trong chốc lát. Trên rất cao này, trời vẫn còn mây. Người tôi nôn nao như ngồi trên đu quay. Chưa chuyến nào thấy mệt như chuyến này. Có lẽ vì cơn bão đang hoành hành ở miền trung nên không trung đầy rẫy ổ gà. Máy bay chòng chành, dồi lắc, bên thân và dưới sàn khe khẽ phát ra những tiếng răng rắc như sắp rạn.

Tay vận complet xoè diêm châm thuốc. Là dân nghiện nhưng lúc này tôi thấy gai với khói. Lẽ ra y nên xuống phía dưới mà thả khí chứ chẳng nên phớt lờ hàng chữ “không hút thuốc” sáng nay trước mũi y như vậy, tôi sẽ uể oải thầm nghĩ, đậy tờ báo lên mặt và nhắm mắt lại.

Giấc ngủ thiu thiu chầm chậm trườn tới.

– Làm cái gì vậy? Hả! Cái bà già này!

Tôi giật bắn mình. Tôi bị giằng khỏi giấc ngủ không phải vì tiếng quát, tay ngồi cạnh tôi không quát to tiếng, chỉ nạt, nạt khẽ thôi, đủ nghe. Nhưng âm hưởng của nỗi hoảng hốt và sự cục cằn trong giọng y như tát vào mặt người ta. Thận trọng, tôi liếc nhìn. Khói thuốc và cặp vai to đùng của y che khuất cả bà cụ già, cả ô cửa sổ.

– Này, cô kia, cô nhân viên! – Y sang trọng đứng dậy mắng – Tới mà nhìn! Đây là hàng không hay là cái xô bếp? Là phi cơ hay là cái miếu thờ thế này, hả?

– Van bác.. – Bà cụ sợ sệt – Bác ơi, van bác.. Chẳng là, bác ạ, bữa nay giỗ thằng cả nhà tôi. Non ba chục năm rồi, bác ơi, tôi mới lên được đến miền cháu khuất.

Tay nọ gần như bước xéo lên đùi tôi, xấn ra lối đi. Bộ mặt hồng hào bừng bừng giận dữ và khinh miệt.

Bà cụ ngồi, lặng phắt, lưng còng xuống, hai bàn tay chắp lại, gầy guộc. Trên chiếc bàn gấp bày đĩa hoa cúng, nải chuối xanh, mấy cái phẩm oản và ba cây nhang cắm trong chiếc cốc thuỷ tinh đựng gạo. Một bức ảnh ép trong tấm kính cỡ bàn tay để dựng vào thành cốc.

Cô tiếp viên vội đi tới. Cô đứng sững bên cạnh tôi. Không hề kêu lên, không thốt một lời, cô lặng nhìn.

Máy bay vươn mình nâng độ cao vượt qua trần mây. Sàn khoang dốc lên. Cái bàn thờ nhỏ bé bỏng của bà cụ già hơi nghiêng đi. Tôi xoài người sang giữ lấy cái khung ảnh. Tấm ảnh được cắt ra từ một tờ báo, đã cũ xưa, nhưng người phi công trong ảnh còn rất trẻ.

Khói nhang nhả nhè nhẹ, bốc lên dìu dịu, mờ mỏng trong bầu không khí lành lạnh của khoang máy bay. Những cây nhang trên trời thẳm tỏa hương thơm ngát. Ngoài cửa sổ đại dương khí quyển ngời sáng.

(Mây trắng còn bay, Bảo Ninh, NXB Trẻ TP. HCM, 2008​)

Đọc hiểu truyện: Mây trắng còn bay

Chọn đáp án đúng:

Câu 1. Xác định thể loại của văn bản trên:

A. Truyện ngắn

B. Tiểu thuyết

C. Hồi kí

D. Tự truyện

Click vào đây để xem đáp án
Đáp án: A

Câu 2. Phương thức biểu đạt chính trong văn bản trên là:

A. Miêu tả

B. Tự sự

C. Nghị luận

D. Biểu cảm

Click vào đây để xem đáp án
Đáp án: B

Câu 3. Xác định ngôi kể, điểm nhìn trần thuật trong văn bản:

A. Ngôi kể thứ nhất, điểm nhìn hạn tri

B. Ngôi kể thứ nhất, điểm nhìn toàn tri

C. Ngôi kể thứ ba, điểm nhìn hạn tri

B. Ngôi kể thứ ba, điểm nhìn toàn tri

Click vào đây để xem đáp án
Đáp án: A

Câu 3. Xác định đề tài của truyện

A. Đề tài chiến tranh

B. Đề tài người lính

C. Đề tài người mẹ anh hùng

D. Đề tài đất nước

Click vào đây để xem đáp án
Đáp án: C

Câu 4. Không gian diễn ra câu chuyện trên ở đâu?

A. Tại sân bay

B. Tại cảng biển

C. Trong khoang máy bay

D. Trên một chuyến tàu

Click vào đây để xem đáp án
Đáp án: C

Câu 5. Nhân vật chính trong truyện là nhân vật nào?

A. Tôi

B. Bà cụ

C. Tay vận (mặc) complet

D. Người con đã hi sinh của bà cụ

Click vào đây để xem đáp án
Đáp án: B

Câu 6. Người con cả đã mất của bà cụ đã hi sinh bao lâu?

A. Gần ba mươi năm

B. Hơn ba mươi năm

C. Ba mươi năm chẵn

D. Khoảng bốn mươi năm

Click vào đây để xem đáp án
Đáp án: A

Câu 7. Tác dụng của dấu gạch ngang trong câu:

“Mây ngay ngoài, các bác kìa! – bà cụ ngồi ở ghế trong cùng, kề cửa sổ, thốt kêu lên” là:

A. Đánh dấu chỗ bắt đầu lời nói của nhân vật trong đối thoại.

B. Đánh dấu phần chú thích, giải thích trong câu.

C. Đánh dấu các ý trong một đoạn liệt kê.

D. Nối các từ nằm trong một liên danh.

Click vào đây để xem đáp án
Đáp án: B

Câu 8. Từ nào sau đây đồng nghĩa với từ “tàu bay”?

A. máy bay

B. xe lửa

C. sân bay

D. phi thuyền

Click vào đây để xem đáp án
Đáp án: A

Câu 9. Những câu thoại của bà cụ: – Mây ngay ngoài, các bác kìa! / – Mây cận quá, bác nhỉ, với tay ra là với được – Y thể cây lá ngoài vườn. / – Vậy mà sao nhiều người họ kháo là tàu bay trỗi cao được hơn mây bác nhỉ? / – Chả biết đâu trời đâu đất thế này biết lối nào mà về bến, thưa các bác? có tác dụng như thế nào?

A. Tạo ấn tượng về sự già cả, có phần lẩm cẩm của bà cụ; đồng thời “đánh lạc hướng” độc giả để chuẩn bị cho sự xuất hiện của bà cụ – bà mẹ đau thương mà kiên cường ở phần cuối truyện.

B. Tạo sự đối lập trong cách xây dựng nhân vật: Bà cụ già cả, lẩm cẩm phần đầu truyện lại là người mẹ anh hùng phần cuối truyện.

C. Tạo sự đối lập trong cách xây dựng nhân vật: Nhân vật bà cụ chân chất, mộc mạc và nhân vật mặc com-lê sang trọng mà khiếm nhã ngồi cạnh.

D. Cả A, B, C

Click vào đây để xem đáp án
Đáp án: D

Câu 10. Câu nói nào sau đây góp phần chuyển câu chuyện sang một bước ngoặt khác:

A. – Mây ngay ngoài, các bác kìa!

B. – Chả biết đâu trời đâu đất thế này biết lối nào mà về bến, thưa các bác?

C. – Đã sắp đến sông Bến Hải chưa con?

D. – Làm cái gì vậy? Hả! Cái bà già này!

Click vào đây để xem đáp án
Đáp án: D

Câu 11. Chủ đề của truyện là:

A. Nỗi đau của những người lính hi sinh vì chiến tranh

B. Nỗi đau của những người mẹ có con hi sinh trong chiến tranh

C. Phê phán sự thờ ơ vô tâm của những con người vô ơn, quên nguồn cội

D. Ca ngợi tình cảm tốt đẹp giữa con người với con người

Click vào đây để xem đáp án
Đáp án: B

Câu 12. Theo em, vì sao cô tiếp viên lại có hành động “đứng sững bên cạnh tôi. Không hề kêu lên, không thốt một lời, cô lặng nhìn.” ?

Click vào đây để xem đáp án
Hành động “không hề kêu lên, không thốt một lời, cô lặng nhìn” của cô tiếp viên hàng không thể hiện sự kính trọng đối với bà mẹ liệt sĩ và người chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc. Đồng thời, đó cũng là biểu hiện của sự xót xa, thấu hiểu trước nỗi đau mà người mẹ phải gánh chịu khi mất đi đứa con thân yêu.

Câu 13. Theo em chi tiết “Tấm ảnh được cắt ra từ một tờ báo, đã cũ xưa, nhưng người phi công trong ảnh còn rất trẻ.” có phải là một chi tiết quan trọng trong văn bản hay không? Vì sao?

Click vào đây để xem đáp án
Chi tiết “Tấm ảnh được cắt ra từ một tờ báo, đã cũ xưa, nhưng người phi công trong ảnh còn rất trẻ.” là một chi tiết quan trọng trong văn bản. Nó thể hiện tình cảm sâu sắc của người mẹ dành cho con trai mình, sự trân trọng và nâng niu từng kỷ vật còn sót lại. Dù tấm ảnh đã cũ, nhưng với bà, đó là minh chứng cho sự hiện diện của con trong cuộc đời mình, là biểu tượng của nỗi nhớ thương không nguôi. Đồng thời, chi tiết này còn gợi lên nỗi đau mất mát và tố cáo sự tàn khốc của chiến tranh, khi một người lính trẻ phải hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ, để lại niềm tiếc thương khôn nguôi cho những người ở lại.

Câu 14. Nhan đề “Mây trắng còn bay” gợi cho em suy nghĩ gì?

Click vào đây để xem đáp án

– Hình ảnh mây trắng có thể được hiểu theo nhiều cách. Nó có thể tượng trưng cho những ký ức đau buồn về chiến tranh, là tấm màn che phủ những nỗi đau mà nhân vật cố giấu đi. Đồng thời, mây trắng cũng có thể đại diện cho người con đã hy sinh, một sự hiện diện lặng lẽ nhưng vẫn luôn tồn tại, như một phần không thể tách rời của bầu trời, của ký ức người mẹ.

– Nhan đề “Mây trắng còn bay” không chỉ thể hiện sự bi tráng của cuộc đời mà còn gợi lên sự hy sinh cao cả của những người chiến sĩ đã ngã xuống nơi chiến trường. Đồng thời, nó cũng phản ánh nỗi đau khắc khoải của những người ở lại, những người mẹ, người vợ suốt đời mang theo nỗi nhớ thương và sự mất mát không gì bù đắp được. Qua đó, tác phẩm nhắn nhủ về sự tàn khốc của chiến tranh, về nỗi đau mà nó để lại, cũng như niềm mong mỏi về một tương lai bình yên hơn, nơi không còn chia ly và mất mát.

Câu 15. Nhận xét về thái độ của các nhân vật đối với bà cụ khi bà cụ mang lễ ra thắp hương.

Click vào đây để xem đáp án

Khi bà cụ thắp hương làm lễ giỗ cho người con hy sinh, thái độ của các nhân vật đối với bà cụ có sự khác biệt rõ rệt, phản ánh cách nhìn nhận khác nhau về nỗi đau và sự mất mát.

– Người đàn ông mặc com-lê tỏ ra gắt gỏng, khó chịu khi thấy bà cụ thắp hương trên máy bay. Ông ta không chỉ phản đối hành động của bà mà còn có lời lẽ nặng nề, thiếu tôn trọng (“Làm cái gì vậy? Hả! Cái bà già này!”). Đối với ông, việc làm của bà cụ là không phù hợp, làm ảnh hưởng đến không gian chung trên chuyến bay. Thái độ ấy cho thấy sự vô cảm, thiếu thấu hiểu trước nỗi đau của một người mẹ đã mất con.

– Cô nhân viên máy bay ban đầu có chút ngạc nhiên nhưng không tỏ thái độ phản đối. Cô “đứng sững, không hề kêu lên, không thốt một lời”, chỉ lặng lẽ quan sát. Sự im lặng ấy thể hiện sự thấu hiểu dần dần, đồng cảm với nỗi đau mà bà cụ đang mang trong lòng.

– Nhân vật “tôi” lại có phản ứng đầy nhân văn khi “xoài người sang giữ lấy cái khung ảnh”. Đây là một hành động thể hiện sự cảm thông sâu sắc, đồng tình với việc làm của bà cụ. Nhân vật không ngăn cản, không phán xét mà ngược lại, âm thầm giúp bà hoàn thành tâm nguyện của mình.

=> Qua cách phản ứng của các nhân vật, ta thấy được những thái độ khác nhau của con người trước nỗi đau mất mát: có người thờ ơ, gắt gỏng, có người im lặng dõi theo, và cũng có người thực sự thấu hiểu, đồng cảm. Điều đó khiến người đọc phải suy ngẫm về sự sẻ chia và lòng nhân ái trong cuộc sống.

Câu 16. Em hãy nêu các phương diện thể hiện giá trị hiện thực và giá trị nhân văn của truyện.

Click vào đây để xem đáp án

* Giá trị hiện thực:

– Truyện khai thác đề tài hậu chiến, khắc họa nỗi đau dai dẳng của người mẹ khi mất con. Dù hòa bình đã lập lại, nhưng nỗi nhớ thương, mất mát vẫn còn nguyên vẹn trong lòng những người ở lại.

– Tác phẩm phản ánh thái độ và cách cư xử của con người trong xã hội hiện đại đối với quá khứ, cho thấy sự thấu hiểu, đồng cảm của một số người nhưng cũng bộc lộ sự thờ ơ, vô cảm của một bộ phận khác.

* Giá trị nhân văn:

– Câu chuyện thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của tác giả với những người mẹ có con hy sinh trong chiến tranh, trân trọng những nỗi đau và sự hy sinh thầm lặng ấy.

– Tác phẩm ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng, bền chặt. Dù con đã mất ba mươi năm, người mẹ vẫn không nguôi thương nhớ, luôn mang trong lòng hình bóng con, thể hiện tình yêu vĩnh cửu của mẹ dành cho con mình.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *